Thị trường6 phút đọcĐăng ngày 1 tháng 9, 2026

Xuất khẩu 345 tỷ USD: điện tử gánh, dệt may đứng yên

Mục lục

Đến hết ngày 15/8, xuất khẩu cả nước đạt 345,42 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước, tức thêm 62,64 tỷ USD, theo số liệu thống kê của Cục Hải quan. Con số đẹp. Nhưng bóc ra theo nhóm hàng thì nền xuất khẩu đang chạy hai tốc độ khác hẳn nhau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện một mình đóng 31,18 tỷ USD vào phần tăng đó, trong khi dệt may nhích 1,1% và giày dép 0,6%.

Bãi container nhìn từ trên cao, các dãy container xếp chồng chạy dài về phía con tàu đang cập cầu dưới dàn cẩu bờ, bên trái là làn xe đầu kéo và rơ moóc rỗng chờ ăn hàng
Kim ngạch xuất khẩu đến 15/8 đạt 345,42 tỷ USD; nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đóng góp gần một nửa mức tăng.

Xuất khẩu 345 tỷ USD, gần hết mức tăng nằm ở khối FDI

Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất 275,90 tỷ USD, tăng 58,45 tỷ USD, tương đương khoảng 26,9%. Đặt hai con số cạnh nhau mới thấy độ lệch: khối này chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu, nhưng chiếm tới hơn 93% toàn bộ phần tăng 62,64 tỷ USD. Phần còn lại, chưa tới 4,2 tỷ USD, chia cho toàn bộ khối doanh nghiệp trong nước.

Khối FDI chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu, nhưng chiếm tới hơn 93% toàn bộ phần tăng 62,64 tỷ USD.

Ba nhóm hàng dẫn đầu đều thuộc công nghiệp chế tạo. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 92,52 tỷ USD, tăng 31,18 tỷ USD, khoảng 50,8%. Máy móc, thiết bị, phụ tùng đạt 43,42 tỷ USD, tăng 8,76 tỷ USD, khoảng 25,3%. Điện thoại và linh kiện đạt 42,16 tỷ USD, tăng khoảng 20,7%. Riêng hai nhóm đầu đã cộng 39,94 tỷ USD vào mức tăng chung, tức gần hai phần ba. Giữ được nhịp này thì mục tiêu 550 tỷ USD cho cả năm 2026 nằm trong tầm tay.

Chiều nhập vẫn chạy nhanh hơn chiều xuất

Tính cả hai chiều, tổng kim ngạch đến ngày 15/8 đạt 712,72 tỷ USD. Nhập khẩu 367,30 tỷ USD, nhiều hơn xuất khẩu 21,88 tỷ USD. Nhập tăng khoảng 34%, xuất tăng 22,2%, cho thấy tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu cao hơn xuất khẩu. Có thể tham khảo thêm kỳ số liệu giữa tháng 7, nhưng cần phân biệt số lũy kế với biến động từng kỳ.

Động cơ của chiều nhập cũng là điện tử. Nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 148,7 tỷ USD, tăng 66,8%, cao hơn kim ngạch xuất khẩu cùng nhóm tới hơn 56 tỷ USD. Nhóm nhiên liệu và nguyên liệu đi theo: xăng dầu 7,6 tỷ USD, tăng 72%; than 6 tỷ USD, tăng 34%. Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng từ 611 triệu USD lên 1,97 tỷ USD, tương đương 223%.

Với chủ hàng, cần đọc cặp số nhập và xuất của nhóm điện tử như số liệu về trị giá, không phải lượng hàng vận chuyển. Chênh lệch này chưa đủ để kết luận chiều nhập từ Đông Bắc Á thiếu chỗ hay cạnh tranh chỗ ngang chiều xuất. Về kế hoạch vận chuyển, doanh nghiệp nên hỏi tình trạng chỗ trên từng tuyến, đối chiếu lịch hàng sẵn sàng và thời hạn giao trước khi quyết định thời điểm booking.

Tác động theo ngành hàng

Dệt may và giày dép là hai nhóm chịu tương phản mạnh nhất. Dệt may đạt 24,74 tỷ USD, tăng khoảng 1,1%. Giày dép đạt 15,16 tỷ USD, tăng khoảng 0,6%. Cả rổ xuất khẩu tăng 22,2%, nên hai ngành này đang đi chậm hơn mặt bằng chung tới hơn 21 điểm phần trăm. Tuy vậy, mức tăng kim ngạch không cho biết số đơn hàng có tăng hay không. Về nghiệp vụ, chủ hàng nên đối chiếu giá cước, cut-off và tuần giao hàng để chọn phương án phù hợp với từng đơn hàng.

Cà phê và gạo là hai nhóm giảm. Cà phê đạt 5,72 tỷ USD, giảm khoảng 10%. Gạo đạt 2,74 tỷ USD, giảm khoảng 8,7%. Chỉ từ kim ngạch chưa thể xác định số lô, lượng hàng hay đơn giá thay đổi ra sao, càng chưa đủ để kết luận tỷ trọng chi phí logistics tăng. Chủ hàng có thể so sánh chi phí LCL với FCL theo lượng hàng thực tế, lịch giao và chi phí chờ gom, thay vì mặc định gom nguyên container luôn có lợi hơn.

Nhóm điện tử và máy móc ghi nhận mức tăng kim ngạch hai chữ số, nhưng số liệu chưa cho biết khối lượng vận chuyển hay tình trạng chỗ tàu, chỗ bay. Về kế hoạch, nhà máy có thể gửi forecast theo quý cho hãng tàu và đại lý hàng không, sau đó cập nhật theo lịch sản xuất thực tế. Khi tham khảo bài phân tích cước tuyến đi Mỹ, cần lấy báo giá cho đúng tuyến và thời điểm dự kiến giao hàng.

Nhóm dùng nhiều nhiên liệu đầu vào cần phân biệt mức tăng 72% của trị giá nhập khẩu xăng dầu với biến động giá nhiên liệu. Con số này không chứng minh giá vận tải nội địa hay phụ phí kéo container đã tăng. Về quản trị chi phí, doanh nghiệp chuẩn bị hợp đồng vận tải bộ cho quý IV/2026 nên kiểm tra căn cứ tính phụ phí, điều kiện điều chỉnh và thời điểm áp dụng với đơn vị vận tải trước khi ký.

Việc chủ hàng làm trong quý IV/2026

  • Dệt may, giày dép: lấy báo giá cho lịch xuất cuối năm, đối chiếu cut-off và tuần giao hàng thay vì suy ra lượng đơn từ kim ngạch.
  • Cà phê, gạo: so sánh LCL và FCL theo lượng hàng thực tế, kể cả chi phí chờ gom và yêu cầu giao hàng.
  • Điện tử, máy móc: gửi forecast sản lượng theo quý cho hãng tàu và đại lý hàng không, cập nhật theo lịch sản xuất.
  • Hàng nhập từ Đông Bắc Á: hỏi tình trạng chỗ theo từng tuyến và lịch hàng sẵn sàng, không suy ra thiếu chỗ từ trị giá nhập khẩu điện tử.
  • Hợp đồng vận tải bộ chuẩn bị cho quý IV/2026: đọc kỹ căn cứ và điều khoản điều chỉnh phụ phí nhiên liệu trước khi ký.
  • Doanh nghiệp trong nước: đối chiếu tăng trưởng kim ngạch của mình với mức 22,2%, đồng thời xem cơ cấu ngành hàng để tránh so sánh lệch.

Homexim làm cước biển FCL và LCL, hàng không, khai báo hải quan và vận tải nội địa cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Gửi tuyến, loại hàng và sản lượng dự kiến quý cuối năm để nhận phương án chỗ và báo giá theo đúng nhịp hàng của mình.

Lô hàng tới, để Homexim lo.

Gửi tuyến, loại hàng và thời điểm dự kiến, nhận phương án vận chuyển kèm báo giá tách khoản trong ngày làm việc.

Yêu cầu báo giá ngay

Liên hệ trực tiếp

Đội tuyến phản hồi trong giờ làm việc. Gửi kèm cảng đi, cảng đến và loại hàng, chúng tôi báo giá thẳng một lần, không hỏi đi hỏi lại.